
Đường ranh giới và khu phi quân sự theo hiệp nghị đình chiến Triều Tiên. |
Ngoài Lời mở màn và Phụ lục, Hiệp định gồm 5 điều, với 63 khổ, đề cập đến những điểm cốt tử về phân định giới tuyến, thiết lập Khu phi quân sự đóng vai trò là một vùng đệm có bề rộng 4 km chạy dọc theo giới tuyến; những thỏa thuận nguyên tắc đối với Hiệp định đình chiến và Lệnh ngừng bắn; quy định về tổ chức, quyền hạn, hoạt động của Hội đồng đình chiến quân sự (MAC) - gồm 10 thành viên, theo tỉ lệ 5 - 5 đối với hai phía, Hội đồng Giám sát các nước Trung lập (NNSC) - gồm 4 thành viên thuộc các nước Thụy Điển, Thụy Sĩ, Ba Lan và Séc & Xlôvakia (Tiệp Khắc); yêu cầu thực hội nghị chính trị; trao trả tù binh... Theo giới nghiên cứu, tuy được soạn thảo theo thể thức của một hiệp nghị đình chiến bình thường có sự soi chiếu theo luật pháp quốc tế, hiệp nghị đình chiến Triều Tiên bị xem là còn có nhiều điểm hạn chế, yếu về tính pháp lý, không buộc ràng được bổn phận thực thi của các bên can dự và vì thế ít có giá trị thực tế.

Lễ ký kết hiệp nghị đình chiến Triều Tiên. Trung tướng William Harrison bàn bên trái, Đại tướng Nam Il bàn bên phải. |
Tính pháp lý trước tiên được quyết định bởi mục đích chính trị. Trong trường hợp này, mục đích đó không được trình bày một cách rõ ràng. Các bên ngay từ đầu đã không đề cập đến mục đích chính trị của Hiệp định. Tại Lời khai mạc, vai trò của Hiệp định dừng lại ở việc “hướng đến việc ngừng bắn, chấm dứt các hành động cừu địch giữa hai phía”. Thuộc tính của hiệp nghị là nhất thời: “chờ cho đến khi đạt được thỏa thuận hòa bình cuối cùng”. Đặc biệt, những người soạn thảo nhấn mạnh các nội dung của Hiệp định chỉ mang “đặc trưng quân sự”, trong khi xét dưới góc độ pháp luật quốc tế, hiệp nghị đình chiến là một văn bản pháp lý mang ý nghĩa chính trị nặng hơn quân sự. Điểm cốt lõi nhất trong hiệp nghị là tổ chức hội nghị chính trị. Thế nhưng, Điều 4 của Hiệp định chỉ đề cập một cách sơ sài là, sau 3 tháng hiệp nghị chính thức có hiệu lực, Tư lệnh quốc phòng hai phía sẽ đề xuất với các Chính phủ của mình tiến hành hội nghị chính trị cấp cao, thương lượng rút quân đội nước ngoài khỏi bán đảo Triều Tiên, giải quyết các bất đồng còn tồn đọng chuẩn y biện pháp hòa bình. Đặc điểm trên kéo theo đối tượng liên hệ đến cuộc chiến, hoặc là bên thực thi hiệp nghị đã không được đề cập một cách rõ ràng. Trong hiệp nghị, có rất nhiều điều, khổ đề cập đến các khái niệm như “bên liên can”, “Chính phủ các bên can hệ”, “Hội nghị chính trị giữa hai phía”... Thế nhưng, không có một điều khoản nào mang tính giảng giải thuật ngữ chỉ rõ đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định. Hiệp nghị tịnh không nêu tên một nước, một tổ chức, hay một thực thể nào để có thể khu trú nghĩa vụ thực thi của các bên.
“Lỗ hổng” về tính pháp lý được biểu đạt tụ hợp và đậm nét nhất khi xét đến chủ thể dự ký kết. Bình thường, Hiệp định đình chiến được ký kết bởi Tư lệnh hay người đứng đầu quân đội của hai phía tham chiến. Trong hiệp nghị này, vấn đề trở nên phức tạp khi khái niệm “hai phía” lại bao gồm quá “nhiều bên”. “Phía Bắc” với Triều Tiên, Trung Quốc, “Phía Nam” ít ra bao gồm Mỹ và Hàn Quốc.
Tuồng như chỉ Triều Tiên là có địa vị pháp lý rõ ràng, khi Đại tướng Nam Il với danh nghĩa Tư lệnh tối cao quân đội Triều Tiên, có đủ thẩm quyền đại diện cho chính quyền miền Bắc. Nhưng việc đại tướng Nam Il lấy nhân cách Tư lệnh “lực lượng quân chí nguyện Trung Quốc” để ký vào bản hiệp nghị lại gây ra nhiều tranh luận. Trung Quốc là một bên can hệ đến cuộc chiến và hiệp nghị. Theo luật pháp quốc tế thường ngày, bên liên tưởng này được hiểu là các quốc gia, chứ không phải là đại diện các nhóm, hay tổ chức quân sự, vì còn phải gắn với bổn phận thực thi sau này.
Ở bên “Phía Nam”, việc Hàn Quốc không dự kí kết Hiệp định rõ ràng là điểm lỗi lớn, vì ngay từ khi nổ ra chiến tranh, Hàn Quốc đương nhiên là một bên tham chiến. Địa vị pháp lý của Mỹ thậm chí còn lập lờ hơn cả trường hợp của Trung Quốc. Tướng William Harrison thay mặt cho Bộ Chỉ huy quân đội LHQ ký vào Hiệp định, điều đó có tức là ông lấy tư cách người đại diện cho các bên tham chiến đứng về phía Hàn Quốc, cụ thể là các quốc gia có gửi quân tham chiến. Ông William Harrison là tướng người Mỹ, là tư lệnh của đội quân LHQ, nhưng điều đó không có nghĩa Mỹ là một bên ký kết hiệp nghị.
Tính pháp lý yếu đưa đến hệ quả không buộc ràng được bổn phận của các bên. Điều đáng tiếc nhất của hiệp nghị này là hai phía ký kết đã chẳng thể nối trở thành hai bên thực thi. Hiệp định đình chiến Triều Tiên thành ra ngay từ đầu đã không có giá trị thực tiễn. Không có gì sửng sốt khi sau đó, các bên hệ trọng đã không tuân, thậm chí có các hành động vi phạm nghiêm trọng hiệp nghị này.
Về mặt quân sự, ngày 8/8/1953, Mỹ ký kết hiệp nghị Phòng thủ chung với Hàn Quốc nhằm “hợp thức hóa” việc đưa quân Mỹ đồn trú tại đây, vi phạm nghiêm trọng Khổ 63 trong hiệp nghị, quy định việc rút ắt lực lượng quân sự nước ngoài tại bán đảo Triều Tiên. Tiếp sau đó, năm 1957, Mỹ cung cấp một lượng lớn vũ khí đương đại cho Hàn Quốc, vi phạm Điểm d, Khổ 13 trong hiệp nghị.
Về mặt giám sát thực thi, vai trò của Hội đồng đình chiến quân sự (MAC) và Hội đồng Giám sát các nước Trung lập (NNSC) cũng dần bị vô hiệu hóa. Các thành viên NNSC, gồm đại diện các nước Thụy Điển, Thụy Sĩ, Tiệp Khắc và Ba Lan rời khỏi bán đảo Triều Tiên tháng 6/1956. Đến năm 1994, Triều Tiên rút phái đoàn khỏi MAC. Hai chủ thể MAC, NNSC với cơ cấu, tổ chức, chức năng nhiệm vụ được quy định chi tiết trong 36 trên tổng số 63 Khổ chính của Hiệp định đã không còn tồn tại trên thực tiễn.
Về mặt chính trị, rứa đầu tiên nhằm tổ chức hội nghị chính trị tại Bàn Môn Điếm đã thất bại. Phải đến tháng 2/1954, Ngoại trưởng các nước Mỹ, Anh, Pháp, Liên Xô mới đạt được thỏa thuận tiến hành Hội nghị chính trị tại Giơnevơ - Thụy Sĩ vào tháng 4/1954 để bàn về một giải pháp hòa bình cho vấn đề Triều Tiên. Thành phần tham gia có thêm đại diện chính phủ Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc và những nước có gửi quân tham chiến. Hội nghị diễn ra từ 24/4 đến 15/6/1954, nhưng không đạt được kết quả đáng kể nào, và từ đó đến nay vẫn chưa hề được nối lại.
Như vậy, khi một bên nào đó kêu gọi tuân thủ hay tuyên bố từ Hiệp định đình chiến, đó đơn giản chỉ là một phản ứng ngoại giao nhằm bộc lộ ý chí chính trị. Với ý nghĩa đó, nhiều học giả nhòm, Hiệp định đình chiến Triều thủ chỉ là một “mớ giấy”, ít có giá trị thực tiễn.
Hoài Thanh(tổng hợp)
Kỳ cuối: hiệp nghị hòa bình - con đường còn lắm chông gai
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét