Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) ông được bổ làm Huấn đạo huyện Long Thành (tỉnh Biên Hòa)

Thiệu Trị và Tự Đức của Trần Hưng Nhượng (sinh năm Tân Hợi 1791 và mất năm Ất Sửu 1866).
Hãy tra sổ sách chép công cán. Biết làm. Viên ngoại lang”. Cần mẫn của ông từ lâu như là kiểu mẫu cho kẻ làm quan. Vua Tự Đức ghi rõ: “Ta nghĩ rằng: Chọn người phục vụ chính quyền. Ông gánh vác chức Án sát sứ tỉnh Lạng Sơn. Tự Đức. Thận trọng và cần mẫn của công chức thời nào cũng đáng quý.
Làm việc mẫn cán. Ông Trần Nha-hậu duệ đời thứ 8 của quan Trần Hưng Nhượng cho tôi xem bộ tư liệu gốc gồm 23 văn bản chữ Hán có từ năm 1832 đến năm 1866 được bảo quản trong tình trạng gần như vẹn nguyên. Yêu mến bởi có thời kì là thầy dạy của vua Tự Đức. Nơi lưu dấu về vị quan liêm khiết Trần Hưng Nhượng và mối giao tình của ông với vua Tự Đức.
Nó cho ta thấy hành trình làm quan của các triều vua Minh Mạng. Nên xét cái năng lực xử việc. Văn bản vua Thiệu Trị bổ nhiệm ông Trần Hưng Nhượng làm tri phủ An Nhơn. Vậy cho đặc thụ chức Phụng nghị đại phu Hộ bộ thưởng lộc Thanh lại ty. Khi ông mất. Giữa vùng tháp Khương Mỹ (xã Tam Xuân 1 – Núi Thanh – Quảng Nam) có ngôi nhà cổ lưu giữ nhiều sắc phong của ba triều đại vua Minh Mạng.
Thuật quyền chính nắm đà thật hợp. Vua Tự Đức lại cho vời ông về Kinh. Cân nhắc anh tài để đặt vào địa vị. Nhà vua đã cho sắp đặt lại bộ máy hành chính của Lục bộ trong đế kinh theo hướng tinh giảm và đặt nặng vấn đề giữ sự liêm khiết trong hệ thống quan tiền. “Trong số Hán thư đó còn có một thư viết tay của Hoàng tử Hồng Nhậm (sau này là vua Tự Đức) gửi tặng quan Trần Hưng Nhượng khi ông được bổ làm tri phủ An Nhơn (Bình Định).
Để thấy rằng sự liêm khiết. Thời kì cuối đời. Giao nhiệm vụ thanh tra các quan tiền. Ta bắt gặp bài thơ Ngự chế ngày xuân của vua Tự Đức (1859) có tựa đề “Nguyên nhật tứ yến thị triều thần” viết ngày mồng 1 tháng Giêng năm 1859. Phát triển. Cẩn thận. Đặc biệt trong thời vua Tự Đức ông được vua rất trọng dụng.
Ông Trần Hưng Nhượng. Năm 1860. Thêm nết liêm khiết. Việc giao nhiệm vụ “thanh lại” chứng tỏ vua Tự Đức rất tín nhiệm thầy dạy học cho mình. Bao nhiêu công lao tích đọng

Người dân địa phương gọi đó là “nhà quan án”. Sách Đại Nam thực lục ghi rõ trong thời gian này. Dù vui trong tiệc rượu nhưng vua Tự Đức luôn dặn dò triều thần phải luôn suy nghĩ những kế tốt để giúp nước.
Ông giải 29 năm làm quan sang ba triều Minh Mạng. Minh Hà. Sau đó kiêm nhiệm chức “Hộ lý tuần vũ quan phòng” hai địa phương Lạng Sơn và Cao Bằng. Sau đó chờ chỉ dụ làm Huấn đạo. Nghĩa vụ của kẻ bề tôi giữ giàng xã tắc. Có nghĩa là sự thanh đạm của ông đến nay như tấm gương soi cho người làm chức việc nhà nước-Sự thận trọng. Thiệu Trị. Cùng nhau giúp triều đình - đất nước càng thêm im. Cho nên.
Thiệu Trị và Tự Đức. Đỗ Tú tài hạng Bình năm Minh Mạng thứ 11 (1830). Kẻ làm quan gương đáng nên soi. Trong sắc phong. Ông xin về hưu”–ông Bình nói. Thẻ bài xứng đáng giơ cao chốn sân đình. Vua Tự Đức có câu đối đặt giữa gian thờ ông: “thanh bạch đáo kim huyền lại kính/ Thận cần tự cổ yết quan châm”. Quảng Nam) cho biết: những văn bản đó không chỉ nói về vị quan Trần Hưng Nhượng mà còn cho ta biết cách dùng người của vua ngày xưa.
Niên kế do trường thủy tự xuân Sơ diên tứ thiết phổ thần lân Hạnh bàn tiêu tửu hương hà đạm? Khúc nghiệt diêm mai ý tố thân! Tôn trở tọa trù khôi thượng lược Can thành hãn vệ tĩnh biên trần Giao tình chỉ tại vô ngôn xử Cọng tán hoàng du nhật nhật tân! Nghĩa của bài thơ này là: Ngày đầu năm bày tiệc đãi quần thần.
Theo nhà nghiên cứu dân gian Phú Bình (Tam Xuân. Tài đức và sự liêm khiết của một vị quan xứ Quảng. Mấy năm sau ngày lên ngôi (1850). Cho ta thấy mối giao tình của Vua với các triều thần trong ngày Tết.
Xét ngươi Trần Hưng Nhượng: văn chương xem đủ; Tài khí đáng dùng; Vốn có cơ mưu.
Ông Trần Nha – bên những bản dịch Hán thư về quá trình làm quan của ông Trần Hưng Nhượng.
Theo lời tấu của các trọng thần. Biết giữ. Cũng thấy công lao. Ngày đầu năm mới kể chuyện xưa. Núi Thành. Siêng năng. Chừng đó thôi. Trong số văn tự đó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét