Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Niềm hạnh phúc ở “rừng vui vui cười”.

Đến giờ vẫn một mình vậy thôi!"

Niềm hạnh phúc ở “rừng cười”

Ở đây còn có chị có em, có những người đã cùng mình lăn lộn với rừng bao năm qua.

Chị Trần Thị Liệu bảo, nói gở tưởng ngày 15/10 hằng năm là ngày giỗ của chị rồi. Họ là những con người dũng cảm trong cả công việc và trong cả đời thường. Thời kì thấm thoắt trôi, đến khi nhìn lại mình thì chị cùng các cô gái khác đã quá lứa lỡ thời, đành chấp thuận “tự túc” kiếm lấy mụn con mà coi sóc. Chia tay những mảnh rừng con gái, tôi về lại đồng bằng, ngang qua những mảnh rừng con gái một thời, những câu chuyện của các chị cứ văng vẳng trong tâm trí cứ ám ảnh mãi không thôi.

Chứ nhớ lại cũng không biết mình làm cách nào vượt qua quơ được đến chừ nữa!”. Nhưng như một chị đã nói: “Với tôi, thế cuộc như vậy đã quá ý nghĩa rồi, có quá vãng để mình nhìn lại và nghĩ tới tương lai tốt đẹp hơn cho con cháu, thế là mãn nguyện rồi!”. Chị Thiện là một trong số những cô gái của liên hợp Lâm - Công nghiệp ngày ấy đã chọn Kbang làm nơi dừng chân đến tận bây giờ.

Tuy nhiên, vào thời khắc đó, để chuẩn bị cho việc xây dựng các lâm trường, gần 5. “Ngày con vào đại học, phải chạy đôn chạy đáo khắp nơi vay lấy tiền cho con. Trong hơn một nửa số người là phụ nữ của lâm trường ngày ấy đã ưng ý mạng, hài lòng với số phận sống tại nơi này. Sau này, liên hợp giải thể, cả 8 lâm trường được giao về cho tỉnh. Đàn ông. Chị Thiện bổi hổi nhớ lại: “Hồi ấy, vùng này hoang vu lắm, tàn tích chiến tranh còn đầy rẫy, bề bộn.

Rừng thì cứ xanh thêm, lớn thêm từng ngày, nhưng mái tóc của các chị lại cứ rơi rụng dần, bạc hơn, và những ngày tháng đẹp đẽ, vô tư của tuổi thanh xuân cứ trôi qua mải miết trong nghìn trùng xanh thẳm của rừng trên lâm trường này. Bao khó khăn khó nhọc của những ngày đầu khai khẩn vùng đất mới.

Những đứa trẻ lớn lên trong sự thục, xa lánh của bạn bè ở trường. Chiều ríu ran những giọng nói chưa chồng thời khắc sau phóng thích, một đơn vị thuộc Quân khu 5 được thành lập làm nhiệm vụ kinh tế - quốc phòng tại Gia Lai. Tranh thủ giờ nghỉ trưa, chị Liệu ngủ ngay trên chiếc ghế để lấy sức chiều tiếp kiến công việc. Thằng bé đứng ở đầu lô hai tay để lên miệng như thể chiếc loa rồi gọi to “Mẹ ơi, các dì ơi! Có người gặp mẹ và các dì này, lên đây nhanh đi!”.

Tôi cũng đã bỏ lại một mối tình ở quê nhà Hưng Yên để ở lại mảnh đất này

Niềm hạnh phúc ở “rừng cười”

000 con người từ khắp nơi được đưa về đây, trong đó có hơn một nửa là nữ giới. Con trai chị Đặng Thị Nguyệt nay đã có gia đình ở thành thị Plâycu, muốn đón mẹ ra ở cùng, sợ mẹ ở trong rừng khó nhọc, nhỡ đâu có chuyện gì, nhưng chị Nguyệt ngùi ngùi: “Nó thương mẹ nên muốn mẹ ra ở cùng.

Họ giúp nhau có ý thức, nghị lực để cùng sống. Đã có lúc 40 cô phải cử đại diện đến đề nghị liên hợp “cân đối” số lượng nam nữ trong đội, nhưng làm sao mà cân đối cho được vì không kiếm đâu ra. Chị Hồng và đứa con trai đầu bị bệnh đang nhận phần ăn trưa từ một chị em khác. Đi sao đành!”. Tất cả đều mới đôi mươi. Câu nói trước tiên của chị khi gặp chúng tôi đã bắt đầu cho một quãng thời gian nhói lòng: “Lúc ấy dường như người ta quên hết mọi thứ, mong muốn được về lại quê hương lớn đến mức lấn át cả tình yêu.

Sau khi một số nam giới ít ỏi bỏ về quê thì đại đội của chị còn lại. Đến những năm 1984 -1985, nhiều cô lỡ thời không có được một chốn nương đã tìm đường về lại quê nhà.

Nhưng cay đắng nhất vẫn là những tháng năm cắn răng chịu đựng tiếng đời.

Họ đã cống hiến hết tuổi thanh xuân cho mảnh đất này, cho cuộc sống này không hề chần chờ, không một lời than thở để những mảnh rừng cháy đỏ vì bom đạn, vì chất độc xanh lên từng ngày. Nên chi, không lạ khi có trường hợp 5 cô của một đơn vị cùng kéo lên gặp lãnh đạo đơn vị xin được chuyển vùng để. Bài và ảnh: Gia Ly. Nói rồi chị Vân cười, tiếng cười nhẹ bỗng, thoả nguyện.

Đứa con chị Nhị “xin” được, là niềm hy vọng của mai sau đối với chị. Cơm độn, rau rừng, mưa rừng, muỗi, vắt khiến những thân “liễu yếu” đánh vật với những cơn sốt rét ai nấy đều xanh lướt vàng vọt. Ở đây, chị được phân vào đại đội vườn ươm, chuyên ươm cây và trồng rừng cùng nhiều cô gái khác cũng ở tuổi đôi mươi.

Con đường rợp bóng cây che mát rượi là lối vào nhà chị Dương Thị Thiện, ở thôn 10, xã Sơn Lang.

Thấy người lạ đến, thằng bé con chị Thiện bật dậy như “lò xo” khiến sợi cói quấn vào cả ngón chân lôi theo cái chiếu dúm lại. Phải rồi, những khó khăn đã trở thành dĩ vãng, giờ chỉ còn mai sau trước mắt, và đời ngày mai sẽ không còn phải chịu những nỗi đau như các chị nữa đâu

Niềm hạnh phúc ở “rừng cười”

Một thứ hội chứng tâm lý cứ lửng lơ treo trên số các chị. Chị Thiện nghẹn ngào kể chuyện với phóng viên. Các chị cứ âm thầm giấu kín nỗi quặn đau trong gượng gập nụ cười, ngày lại ngày cùng níu lấy thân cây, để cây đỡ người không gục ngã. Dù một năm thì phải hết 9 tháng nằm rừng, chỉ mùa mưa mới được về lại đơn vị, thiếu thốn trăm bề, có tháng phải ăn cơm độn triền miên nhưng sau một thời kì ngắn, chỉ có cánh chân yếu tay mềm quyết tâm trụ lại, còn nhiều anh chàng sức dài vai rộng thì lại bỏ về quê vì không chịu nổi sự khắc nghiệt của rừng già.

Và thế là những khoảnh rừng ngun ngút, xanh thăm thẳm chỉ còn lại toàn con gái. Sau gần 60 km từ trung tâm huyện Kbang đi vào, ông Hà Văn Hoạt - Phó Chủ tịch xã Sơn Lang nhận làm người dẫn đường đưa chúng tôi đến với những người phụ nữ của mảnh rừng con gái ngày ấy.

Cây rừng thì đã biếc xanh, chỉ có người là càng ngày càng sạm đen đôi má, còn rừng vẫn run rẩy hồi sinh. Tuổi xuân các chị đã gửi lại nông trường, khai thác vỡ đất trồng rừng.

Mấy năm trước đang lúc đi hái cà phê thuê chị thiếu máu và bị lao lực nên nằm vật ra đất bất tỉnh, mấy chị em hoảng quá đưa chị ra bệnh viện cấp cứu, bác sĩ truyền cho vài bình máu chị mới tỉnh lại mà nuôi con đến giờ được, chứ nếu không chị đã bỏ lại đứa con trai của mình mà về với đất rồi.

Một điều có phần an ủi cho các chị nơi đây là khi những đứa con họ “xin được” (tất cả đều mang họ mẹ) đã khôn lớn, có người đã có công việc ổn định ngoài thành thị, có người đang học đại học.

Đáp lại tiếng gọi trẻ em trong vắt ấy, mấy tiếng hú đáp trả lại rồi thấp thoáng trong lô rừng ngăn ngắt xanh, bóng vía của những người nữ giới dần hiện ra với những bước chân thập thễnh vì lối đi trong lô rất khấp khểnh.

Có nhẽ lâu lắm rồi cái ngõ này mới có người lạ ghé thăm nên phản ứng của đứa bé ấy mới bàng hoàng như thế. Phần đông các cô gái hồi ấy từ miền Bắc và Bắc Trung Bộ được vận động hoặc xung phong vào đây làm nhiệm vụ ươm cây, phát rừng, trồng rừng.

Rồi may thay, bên Hội đàn bà tương trợ được một con bò nuôi đẻ. Nơi ấy những cô gái không bao giờ lấy chồng, cây rừng kết phòng the mà không chú rể, quay đi quay lại vẫn những lưng ong con gái, mâm cơm hắt hiu ngồi bên nào cũng lệch, chỉ có những đứa con “xin” được là có tiếng đàn ông.

Đúng 40 nữ, đa số quê gốc Hưng Yên, Thanh Hóa, Nghệ An.

Hồi ấy tuy cơm không đủ ăn, phải độn mì lát, khư khư nhưng ai cũng vô tư, ai cũng tràn ngập sinh khí và lý tưởng. Cũng giống những người phụ nữ khác như chị Đặng Thị Nguyệt (SN 1956), Trần Thị Liệu (SN 1960), Lê Thị Vân (SN 1959), Trần Thị Ngọc. 40 cô gái với nhiệm vụ phát rừng, dọn vệ sinh rừng, và sống với nhau.

Nếu không có họ, chắc gì những mảnh rừng kia được hồi sinh như thế!”. Đến năm 1984, Sư đoàn 332 chuyển thành liên hợp Lâm - Công nghiệp Kon Hà Nừng do Bộ Nông nghiệp quản lý

Niềm hạnh phúc ở “rừng cười”

Những ngày đó đói kém, chỉ ăn sắn, ăn khoai nhưng quyết không để con mình đói khổ, thiếu chữ. Thế nhưng hành trình “vượt cạn” sinh con, rồi những năm tháng một thân một mình nuôi con khôn lớn, với mỗi người là cả một câu chuyện dài và đầy tủi hổ.

Chuyện của rất nhiều người phụ nữ lâm trường ngày xưa như một áng mây buồn trên trời chiều Trường Sơn, dẫu có những người may mắn có được niềm hạnh phúc về đường gia cảnh, nhưng còn đó những phận đời vẫn trơ tráo khi tuổi đã xế chiều. Theo thằng bé, chúng tôi đi bộ khoảng hơn cây số đến chỗ các chị đang phát dọn rừng.

“Chú gặp mẹ cháu ạ! Để cháu ra lô gọi mẹ cháu về, mẹ cháu đang đi làm ngoài lô kia, gần đây thôi!”. “Tự túc” và một hy vọng tương lai Dưới những tán rừng đang lên xanh ngát này, các chị đều cùng chung tình cảnh nên họ thương nhau, coi nhau như ruột thịt. Số phận đã đưa những cô gái đang tuổi đôi mươi như chị Thiện từ Hưng Yên vào Kbang năm 1978, đến với những cánh rừng đang cần được hồi sinh.

Vì thế, các chị phải làm hầu hết các công việc, kể cả việc khó nhọc nhất để bám trụ lại nơi này.

“Sao mấy bạn khác có ba mà con không có hả mẹ? Câu hỏi nghô nghê của các con như nhát dao cứa vào tâm thuật mình vậy!”, chị Thiện ngùi ngùi. Thảy đều ngoan ngoãn, và hầu như biết mệnh không may mắn của cuộc thế nên ai cũng cố gắng để có được cuộc sống tốt đẹp hơn.

Kiếm tấm chồng. Hồi ấy, Đội Lâm sinh Trạm Lập có chẵn. Miệng đời oan trái vẫn thường nhằm vào những người nữ giới này mỗi khi có chếch mếch. Trả hết nợ rồi còn sinh lời được 4 con, vừa rồi mới bán 1 con cho thằng Lập đi xin việc đó!", chị Liệu cười vui, trong ánh mắt lấp lánh một tương lai rạng ngời.

Những đứa con ra đời mang họ mẹ, được các chị xem như một “bảo bối” của đời mình. Thế nên tình yêu đơn giản bỗng trở nên một thứ tình cảm xa xỉ, ngoài tầm tay với của các chị. Nhưng mình đã ở đây cả tuổi trẻ rồi, không muốn đi nữa.

Thế mà các cô gái chúng tôi tích cực lắm, không quản gì khó nhọc”. Ông Nông Văn Tưởng, Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Ka Nak (huyện Kbang, Gia Lai), nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Khảo sát Thiết kế rừng của Sư đoàn 332 ngậm ngùi khi nhớ lại khoảng thời gian ấy: “Quả thật có sống trong những thời khắc đó mới hiểu được tâm tình của những cô gái trong rừng.

Nhìn lại quãng đời đã qua, chị Lê Thị Vân cũng cảm thấy ngỡ ngàng: “Hồi đó có chị cũng cắn răng mà chịu, chỉ vắt vun vén cho đứa nhỏ. Những nghẹn ngào chốn rừng cười Chị Thiện trò chuyện với tôi, hiếm lại xen vào giữa câu chuyện lại có những tiếng cười chua chát, mỉa mai nhưng chồng chất những nỗi niềm. Những mảnh rừng con gái đã xanh ngăn ngắt, nhưng nơi ấy đã lấy đi của các chị hạnh phúc được làm vợ, làm mẹ, hạnh phúc của một gia đình nhỏ bé giản đơn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét